Lò ấp cúm trung quốc và những dịch bệnh nghiêm trọng

Ngành nông nghiệp Trung Quốc, nơi gia cầm và lợn thường được nuôi gần nhau, từ lâu bị coi là duyên do chính tạo ra các chủng virus cúm mới.

Nhiều dịch cúm nghiêm trọng trong lịch sử mang căn nguyên từ Trung Quốc, như cúm châu Á năm 1957 hay cúm Hong Kong năm 1968. Ngành chăn nuôi tại các nước tăng trưởng thường không để lại hậu quả như vậy, bởi việc sản xuất hàng loạt tại 1 khu vực cố định giao hội vào một loại thịt duy nhất.

Thêm vào đó, giết thịt sau lúc giết mổ thường được đông lạnh, trải qua một chuỗi giải pháp vệ sinh trung gian trước khi đến tay khách hàng. Điều này giúp tránh khả năng truyền nhiễm chéo giữa những loài, song song tạo điều kiện kiểm soát chất lượng sản phẩm và giám sát hệ thống.

Sau sự bùng phát đại dịch SARS gần hai thập kỷ trước và dịch viêm phổi do chủng virus corona mới (nCoV) gần đây, mối nghi ngờ tiếp tục lan sang các khu chợ tươi sống tại tỉnh thành ở Trung Quốc, nơi người dân ngày càng xu thế thích thử các món khiến từ động vật hoang dại chế biến tại chỗ.

Một y tá bên <span class='marker'>ngoài</span> phòng khám SARS ở <span class='marker'>ngoại ô</span> Toronto, Canada hồi tháng 4/2003
Một y tá bên không tính phòng khám SARS ở ngoại ô Toronto, Canada hồi tháng 4/2003. (Ảnh: Reuters).

Dịch viêm phổi cấp phát khởi từ thành thị Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc dường như lặp lại “cơn ác mộng” SARS, hay còn gọi là Hội chứng Hô hấp Cấp tính Nặng, xuất hiện lần đầu vào tháng 11/2002 ở phía nam thức giấc Quảng Đông. Bệnh này cũng do 1 chủng virus corona gây ra, được cho là căn nguyên từ loài dơi, sau đấy lây sang người ưng chuẩn các con cầy hương bán tại các chợ động vật hoang dã.

SARS dễ dàng lây lan, mang các triệu chứng như sốt, ớn lạnh, đau nhức thân thể và thường diễn tiến thành viêm phổi, sở hữu tỷ lệ tử vong 10%. Nó khiến dấy lên cơn hoảng loàn tại châu Á từ đầu năm 2003, cốt yếu tại Singapore và Trung Quốc, đặc biệt là đặc khu Hong Kong. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày 12/3/2003 ra cảnh báo sức khỏe trên toàn cầu.

Dịch SARS xuất ngày nay 37 quốc gia, mang khoảng 8.000 ca nhiễm và 774 người thiệt mạng. 80% nạn nhân ở Trung Quốc, chỉ riêng Hong Kong ghi nhận 300 trường hợp tử vong. Dịch bệnh được kiểm soát vào năm 2003 và ko sở hữu ca nhiễm nào được báo cáo nhắc từ năm 2004.

Từ sau dịch SARS, chính phủ Trung Quốc đã tái xây dựng hệ thống kiểm soát bệnh truyền nhiễm, củng cố mạng lưới san sớt thông tin cả trong và bên cạnh nước, đồng thời thiết lập một hệ thống báo cáo trực tuyến theo thời gian thực trên toàn quốc, dùng trong các giả dụ y tế công cộng khẩn cấp và xuất hiện bệnh truyền nhiễm. Trớ trêu thay, chính hệ thống kiểm soát nghiêm ngặt này bị coi là duyên do cho sự chậm trễ trong việc xác nhận những ca nhiễm nCoV mới.

Trước SARS, Trung Quốc từng gặp rối rắm với dịch cúm gia cầm H5N1 hồi năm 1997 làm cho 18 người nhiễm virus, trong ấy với 6 người chết tại Hong Kong, ngay sau lúc đặc khu được Anh trao trả về đại lục. Trung Quốc đại lục bị nghi ngờ là nơi khởi phát dịch bệnh bởi 80% gia cầm tại Hong Kong nhập từ đây.

Giới chức Hong Kong ra lệnh tiêu hủy 1,5 triệu gia cầm, bao gồm gà, vịt, người thương câu, nhằm ngăn virus lây lan. Chủng virus này đặc thù nguy hiểm gia cầm nuôi và đa số ví như mắc bệnh ở người đều xúc tiếp trực tiếp với con vật nhiễm bệnh. Triệu chứng bao gồm những trạng thái giống như viêm phổi và suy đa tạng, tỷ lệ tử vong gần 60%, theo WHO.

Cúm gia cầm không được coi là 1 bệnh dịch ở người, bởi việc lây nhiễm virus H5N1 giữa người người vô cộng hạn chế, bất chấp các lo ngại rằng nó sẽ phát triển thành một dạng dễ lây truyền. Dù vậy, chiếc virus này vẫn vươn lên là mối đe dọa nguy hiểm khi xuất hiện trở lại vào năm 2003 ở Đông Nam Á, lan ra 15 quốc gia, khiến 282 người bỏ mạng trong 468 ca bệnh, theo số liệu của WHO.

Cũng nguồn gốc từ 1 chủng virus thuộc nhóm virus cúm A như H5N1, với tên gọi H3N2, dịch cúm Hong Kong bắt đầu lây lan trong đô thị từ tháng 7/1968, khiến 500.000 người mắc bệnh, chiếm 15% dân số tại đây. Dịch bệnh sau ấy bao trùm tất cả châu Á và lan sang tận Mỹ, châu Âu, Australia và châu Phi chỉ trong vài tuần.

Được coi là đại dịch đầu tiên thời hiện đại, 1 trong những động lực tương tác sự lây lan chóng vánh của cúm Hong Kong là sự phát triển của ngành hàng ko quốc tế. WHO bắt buộc huy động và điều phối nỗ lực tương trợ toàn cầu trên quy mô lớn để chóng lại đại dịch này.

Bệnh nhân lấp kín khu chờ của <span class='marker'>một</span> phòng khám ở Hong Kong vào tháng 7/1968.
Bệnh nhân lấp kín khu chờ của một phòng khám ở Hong Kong vào tháng 7/1968. (Ảnh: SCMP).

Đại dịch cúm Hong Kong ước tính đã cướp đi sinh mạng của 1 triệu người, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng đề phòng Dịch bệnh Mỹ (CDC). Mặc dù tỷ lệ tử vong thấp hơn cúm Tây Ban Nha (1919-1920), đại dịch khiến 500 triệu người trên thế giới nhiễm bệnh và 50-100 triệu người tử vong, cúm Hong Kong lây truyền rất nhanh. Các triệu chứng kéo dài từ 4 đến 5 ngày, trong 1 số nếu lên tới hai tuần.

Tháng 11/1968, các nhà khoa học trở thành công cái vaccine giúp phòng bệnh hiệu quả. Trong 1 báo cáo năm 1969, WHO đánh giá sự hiệp tác của Hong Kong đã giúp giai đoạn nghiên cứu diễn ra “nhanh nhất thể”.

Tháng 1/1970, tờ New York Times cho biết: “các nhà kỹ thuật nghi ngờ chí ít ba đại dịch cúm gần đây đều nguồn gốc từ Trung Quốc đại lục”. Bài báo dẫn lời chưng sĩ Chang Wai-kwan tại Bệnh viện Queen Mary ở Hong Kong trong 1 hội nghị quốc tế, rằng cúm Hong Kong và cúm châu Á năm 1957 “dường như đều bắt nguồn từ Trung Quốc đại lục”.

Những trường hợp thứ 1 mắc cúm châu Á, cũng do virus thuộc nhóm A mang tên H2N2, được xác định vào tháng 2/1957 tại thức giấc Quý Châu, phía tây nam Trung Quốc. Virus lây lan khắp nước này và toàn thế giới, vươn lên là đại dịch nghiêm trọng nhất đề cập từ sau cúm Tây Ban Nha.

Nghiên cứu cho thấy H2N2 là một chủng hỗn hợp, nguồn gốc từ những chủng cúm gia cầm và virus cúm ở người. Giống như cúm Hong Kong, 1 số người nhiễm cúm châu Á chỉ trải qua những triệu chứng như ho và sốt nhẹ, nhưng rộng rãi giả dụ khác biến chứng nghiêm trọng thành viêm phổi và thiệt mạng.

Hai đợt bùng phát đã diễn ra trong đại dịch này. Những tháng đầu tiên, virus lan khắp Trung Quốc và các khu vực lân cận. Đến giữa mùa hè năm 1957, dịch lan đến đất Mỹ, nhưng ban sơ nhịn nhường như mang tương đối ít người nhiễm. Vài tháng sau, số ca bệnh đột ngột tăng, đặc thù ở trẻ em, người già và thai phụ, tạo ra đợt bùng nổ vật dụng hai của dịch bệnh tại Bắc bán cầu vào tháng 11/1957. CDC ước lượng 1,1 triệu người trên thế giới tử vong trong đại dịch cúm châu Á.

Cũng theo bài báo tháng 1/1970 của New York Times, Tây Ban Nha ko cần nơi khởi phát dịch cúm Tây Ban Nha được cho là nguy hiểm nhất lịch sử năm 1918, mà là Trung Quốc. Một bài viết năm 2018 trên Tạp chí Y khoa Anh cũng đồng tình quan điểm này.

Virus gây ra đại dịch được cho là sở hữu căn nguyên từ chim, lợn hoặc cả hai. Claude Hannoun, chuyên gia hàng đầu về dịch cúm năm 1918 của Viện Pasteur, nhận định cái virus nhiều khả năng phát khởi từ Trung Quốc. Sau đó, nó biến đổi ở Mỹ và từ đấy lan sang Pháp và khắp châu Âu, khiến cho tổng cộng 500 triệu người bị truyền nhiễm và 50-100 triệu người, tức 3-5% dân số thế giới vào thời khắc đó, tử vong.

Theo: VnExpress

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Scroll to top